Làng đúc đồng 900 năm tuổi tại Nam Định – sống mãi với nghề xưa

Đúc đồng Tống Xá – Nam Định từ lâu đã vang danh khắp chốn bởi sự tinh xảo, tài hoa thể hiện trên từng sản phẩm. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đến nay làng nghề vẫn giữ được cái nghiệp cha ông để lại, đồng thời phát huy và lan tỏa ngày càng rộng rãi.
Nghề đúc đồng ở Tống Xá, Vạn Điểm (hay còn gọi là làng nghề Ý Yên) gắn với một truyền thuyết. Chuyện rằng, cách đây gần 900 năm, tại Phủ Yên Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), có ông Nguyễn Chí Thành ngay từ nhỏ đã xuất gia theo hầu Thiền sư Giác Không. Ông là người học rất giỏi, đi nhiều nơi, đem học vấn dạy cho mọi người. Trong một lần qua Tống Xá, ông đã dạy cho dân làng cách làm khuôn để đúc đồng.

Nhiều thế kỷ đã trôi qua, lịch sử cũng nhiều thăng trầm, dâu bể, nhưng nghề đúc đồng vẫn trường tồn như chính chất liệu đanh rắn của nó. Để nhớ công lao của ông, dân làng đã lập đền thờ. Hàng năm, vào giữa tháng 2 âm lịch, làng mở hội để tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề, đem lại sự nghiệp cho làng.

Từ chỗ chỉ chuyên đúc những sản phẩm gia dụng, thờ cúng có kích thước nhỏ như chậu, nồi, chảo, lư hương, đỉnh trầm, tượng Phật… Ngày nay, người Tống Xá đã có thể đúc được những sản phẩm lớn có độ tinh xảo và phức tạp cao. Điển hình như việc các nghệ nhân làng Tống Xá và làng Vạn Điểm ở cạnh bên đã đúc thành công nhiều công trình tượng đài lớn bằng đồng mang tầm cỡ quốc gia như: Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ cao 16,2m, nặng 220 tấn ở Điện Biên; tượng vua Lý Thái Tổ cao 10,1m, nặng 45 tấn ở hồ Gươm (Hà Nội); tượng Phật tổ Như Lai nặng 35 tấn ở núi Non Nước (huyện Sóc Sơn, Hà Nội); 3 pho tượng Tam Thế Phật nặng 50 tấn ở chùa Bái Đính (Ninh Bình)…

Những sản phẩm đúc đồng của Công ty Thắng Lợi – một trong những nhà nghề nổi tiếng nhất tại Tống Xá.

Để có được một sản phẩm tinh xảo như trên, các nghệ nhân của làng đúc đồng đã trải qua những công đoạn cực kỳ vất vả, khó khăn nhưng vẫn luôn đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Trong quá trình đúc, nghệ nhân đúc đồng cần tạo một khối đất giống như mẫu có sẵn để làm khuôn mẫu, sau đó khéo léo nện lại cho khuôn mềm và có độ dẻo dai. Nhưng để cho khuôn cứng cáp và lên phom dáng chuẩn nhất thì khuôn mẫu cần được đốt củi và nung lên cho chín.

Công đoạn quan trọng nhất là nấu đồng. Ở đây, tỉ lệ nấu đồng luôn là 100% đồng để đạt được chất lượng cao nhất. Đồng được nấu hoàn toàn bằng lò thủ công. Trước khi đúc đồng chảy vào, phải nung khuôn nóng đều, đủ độ nhiệt cho đồng chảy đều trong khuôn. Đây là khâu khó nhất phải nhờ kinh nghiệm của đôi mắt và khả năng phán đoán của nghệ nhân kinh nghiệm đảm trách.

Nghệ nhân đang thực hiện công đoạn nấu đồng bằng lò nấu thủ công.

Cuối cùng là công đoạn hoàn thiện sản phẩm. Sau khi khuôn nguội, dỡ khuôn lấy sản phẩm ra mài, giũa, đục, tách theo mẫu và con mắt của nghệ nhân phải đồng sắc – đồng khí mới đạt yêu cầu về kỹ thuật. Khó đúc nhất là các loại sản phẩm có các thành phần chi tiết nhỏ như tượng chân dung Phật, người phải có thần thái; chuông, khánh đánh lên phải trong trẻo, ngân vang. Hơn nữa, sản phẩm đúc ra sau khi đã đạt tiêu chuẩn về hình dáng, kích thước, họa tiết phải tiến hành khâu làm nguội. Muốn làm được công đoạn này cần phải có dụng cụ riêng như cây khoan, bàn dũa, dao chấn đe… Khâu quan trọng nhất là trạm, với rất nhiều dụng cụ chuyên dùng, nghệ nhân trạm có thể tạo ra các đường nét như ý đó là các đường “trạm án”, “trạm chìm”, “trạm đúc nổi” (trạm dương bản).

Các nghệ nhân đang đổ đồng được nung chín ra khuôn tạo sẵn.

Trung bình, một sản phẩm đồng được đúc ra sẽ mất khoảng 20-30 ngày tùy theo kích thước sản phẩm mà khách hàng yêu cầu. Thời gian không ngắn nhưng cũng không quá dài để tạo ra được một sản phẩm tinh xảo và cầu kì đến từng chi tiết.

Có thể nói sản phẩm đúc đồng là sản phẩm của một tập thể. Không có người thợ giỏi ở tất cả các khâu thì không thể có sản phẩm đẹp. Yêu cầu trước hết của người thợ là sự kiên trì, cẩn thận, tỉ mỉ và kinh nghiệm trên từng công đoạn. Hàng trăm năm qua khi các ngành nghề khác như nghề mộc, khảm trai, sơn mài tại Nam Định thay đổi chóng mặt vì sự phát triển của khoa học và công nghệ thì đúc đồng truyền thống vẫn như buổi sơ khai, hầu hết là làm thủ công và truyền nghề cho những người trong gia đình để bí quyết ngành nghề được đảm bảo và gìn giữ một cách chặt chẽ nhất.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của cuộc sống, làng nghề đúc đồng vẫn duy trì được ngành nghề của mình từ đời này qua đời khác mà không hề bị mai một hay phai mờ đi theo thời gian. Điều đó không chỉ thể hiện được đầu óc sáng tạo và bàn tay khéo léo của từng thế hệ người dân Nam Định mà còn cho thấy được tinh hoa đất và người, đậm đà văn hóa bản địa độc đáo, riêng biệt. Cuối cùng, đó là tinh thần gắn kết cộng đồng, tấm lòng gìn giữ bản sắc văn hóa và nét truyền thống dân tộc.

Thu Hoài – http://vietlao.vietnam.vn/kham-pha-viet-lao/lang-duc-dong-900-nam-tuoi-tai-nam-dinh-song-mai-voi-nghe-xua

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *